Kiến thức cơ bản về khử trùng và tiệt trùng

 

1. Các khái niệm cơ bản

Kiến thức về khử trùng và tiệt trùng rất quan trọng đối với an toàn sinh học trong phòng thí nghiệm.

Có nhiều thuật ngữ khác nhau về sự khử trùng (Disinfection) và tiệt trùng (Sterilization):

- Sự khử trùng (Disinfection): phương tiện hóa học hay lý học dùng để diệt một phần vi sinh vật, nhưng không triệt để với bào tử.

- Sự tiệt trùng (Sterilization) là quá trình diệt và/hoặc loại bỏ Tất Cả các vi sinh vật và bào tử. Các phương pháp thường dùng là nhiệt, hóa chất để diệt vi khuẩn hoặc lọc để loại bỏ vi khuẩn.

- Chất khử trùng (Disinfectant): là hóa chất hay hỗn hợp các hóa chất dùng để diệt vi sinh vật nhưng không triệt để với bào tử. Chất khử trùng thường được sử dụng cho bề mặt đồ vật hoặc cả đồ vật. Mỗi hóa chất sẽ có độ nhạy khác nhau đặc hiệu cho từng loại vi sinh. Lượng vi sinh giảm tỉ lệ thuận với liều chất khử trùng. Trong một số trường hợp, cần phải trung hòa hóa chất sau khi khử trùng để đảm bảo an toàn cho môi trường.

- Hóa chất diệt trùng (chemical germicide): một hóa chất hay hỗn hợp các hóa chất dùng để diệt vi sinh vật

- Chất tẩy trùng (Antiseptic): một chất kiềm chế sự phát sinh và phát triển của vi sinh vật mà không cần tiêu diệt chúng. Chất tẩy trùng thường được sử dụng với bề mặt cơ thể.

- Sự khử nhiễm (Decontamination): các quá trình loại bỏ hoặc/và diệt vi sinh vật.

 

2. Hóa chất diệt trùng 

Sử dụng đúng hóa chất diệt trùng sẽ góp phần làm an toàn nơi làm việc trong khi giảm nguy cơ của tác nhân nhiễm trùng. Trong chừng mực có thể, nên hạn chế sử dụng lượng hóa chất diệt trùng để tiết kiệm, dễ kiểm soát lượng tồn kho và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Dưới đây mô tả những loại hóa chất diệt trùng thông dụng, với những thông tin chung về ứng dụng và khía cạnh an toàn.

Bảng tóm tắt nồng độ cần thiết của hợp chất giải phóng Clo:

 

 

Tình trạng sạcha

Tình trạng bẩnb

 

 

 

Clo sẵn có theo yêu cầu

0,1% (1g/l)

0,5% (5g/l)

Dung dịch Natri hypochlorite (5% clo)

20ml/l

100ml/l

Canxi hypochlorite (70%)

1,4g/l

7,0g/l

Bột Natri dichloroisocyanurate (60% clo)

1,7g/l

8,5g/l

Viên Natri dichloroisocyanurate

(mỗi viên chứa 1,5g clo)

1 viên cho 1 lít

4 viên cho 1 lít

 

a Sau khi dọn dẹp khối lượng vật liệu lớn

b Các vật liệu chảy tràn như máu hoặc sau khi dọn dẹp khối lượng vật liệu lớn

 

3. Khử trùng và tiệt trùng bằng nhiệt 

Nhiệt độ là một trong những tác nhân vật lý phổ biến nhất sử dụng để khử trùng các tác nhân gây bệnh. Nhiệt khô hoàn toàn không ăn mòn, dùng để xử lý nhiều vật dụng của phòng thí nghiệm có thể chịu được nhiệt độ 1600C hoặc cao hơn trong vòng 2-4 giờ. Đốt hay thiêu cũng là một hình thức của nhiệt khô. Nhiệt ẩm hiệu quả nhất khi sử dụng dưới hình thức hấp thanh trùng.

Đun sôi không diệt được tất cả vi sinh vật và/hoặc mầm bệnh, nhưng có thể sử dụng để khử trùng bước đầu khi các phương pháp khác (khử trùng hay khử nhiễm bằng hoá chất, hấp thanh trùng) không thích hợp hay không thể thực hiện hoặc không có.

Những vật đã khử trùng phải thao tác và cất giữ để duy trì tình trạng vô trùng cho đến khi sử dụng.

 

4. Hấp khử trùng

- Hơi nước bão hòa dưới áp suất (hấp thanh trùng) là biện pháp vô trùng vật liệu phòng thí nghiệm hiệu quả và đáng tin cậy nhất.

+ Nhiệt độ 1340C trong 3 phút

+ Nhiệt độ 1260C trong 10 phút

+ Nhiệt độ 1210C trong 15 phút

+ Nhiệt độ 1150C trong 25 phút

- Có các mẫu nồi hấp:

+ Nồi hấp chân không

+ Nồi hấp tiền chân không

+ Nồi hấp áp suất bằng nhiệt

- Các qui tắc sau đây có thể giảm đến mức tối thiểu những nguy cơ phát sinh trong vận hành nồi áp suất:

+ Trách nhiệm khi vận hành và bảo quản thường xuyên cần phân công cho những nhân viên đã qua đào tạo.

+ Một chương trình bảo dưỡng phòng ngừa nên bao gồm kiểm tra thường xuyên khoang, những chỗ bịt ở cửa, tất cả đồng hồ đo và do nhân viên đủ năng lực quản lý.

+ Hơi nước nên bão hòa và không có những chất hóa học (ví dụ như các chất ức chế ăn mòn) có thể làm hỏng những vật được vô trùng.

+ Tất cả vật liệu để hấp thanh trùng nên đựng trong những vật chứa mà không khí di chuyển nhanh và truyền nhiệt tốt. Cần để vật liệu lỏng lẻo bên trong khoang nồi hấp để hơi nước được đều khắp.

+ Đối với nồi hấp thanh trùng không có gắn khóa an toàn liên động, để phòng nắp bị mở ra khi có áp suất cao trong khoang nồi hấp thì nên đóng van chính để nhiệt độ xuống dưới 800C rồi mới mở nắp nồi hấp.

+ Nên đặt cơ chế xả khí chậm khi hấp thanh trùng dung dịch vì nhiệt độ cao có thể làm chúng sôi tràn ra.

+ Người vận hành nên mang găng tay và mặt nạ thích hợp để bảo vệ khi mở nồi hấp, ngay cả khi nhiệt độ đã hạ thấp dưới 800C.

+ Khi kiểm tra thường xuyên hiệu suất của nồi hấp, nên đặt dụng cụ chỉ thị sinh học hay cặp nhiêt điện ở giữa các vật được hấp thanh trùng. Trong trường hợp xấu nhất, việc giám sát thường xuyên bằng cặp nhiệt điện và thiết bị ghi là rất cần thiết để xác định chu kỳ vận hành thích hợp.

+ Màng lọc tháo nước của khoang (nếu có) nên tháo ra và lau sạch hàng ngày.

+ Phải cẩn thận để đảm bảo van xả của nồi hấp áp suất không bị nghẽn do giấy …trong vật được hấp thanh trùng.

 

5. Tài liệu tham khảo

Cẩm nang an toàn sinh học phòng thí nghiệm – Tổ chức Y tế Thới giới, xuất bản năm 2004

 

Đăng bài: Mỹ Dung